Khám phá các triệu chứng bệnh của gỗ keo

Thảo luận trong 'Rao Vặt Toàn Quốc' bắt đầu bởi minhqn, 21/3/16.

  1. minhqn

    minhqn Thành Viên Mới

    Tham gia ngày:
    21/9/15
    Bài viết:
    4
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    1
    Giới tính:
    Nam
    Cách chữa bệnh và phòng ngừa sâu bệnh trên cây gỗ keo là hướng để giúp cây sinh trưởng tốt hơn.

    I. Triệu chứng nhận dạng các bệnh trên cây gỗ keo:

    1. Sâu kèn nhỏ (Acanthopsyche sp).

    [​IMG]



    - Đặc điểm sinh trưởng của loài sâu kèn nhỏ này:
    + Trưởng thành: Con đực có thân dài từ 4-5mm, sải cánh dài từ 11-13mm, thân màu nâu xẫm có phủ một lớp lông trắng. Râu đầu hình lông chim. Cánh trên màu nâu xẫm có phủ một lớp lông trắng, cánh sau màu trắng xám. Con cái không có cánh dài từ 6-8mm, đầu nhỏ màu cà phê. Ngực, bụng màu trắng vàng và bụng uốn cong. Ngài cái nằm trong kén. Trưởng thành đẻ từ 100-270 trứng (trung bình 200 trứng), tỉ lệ nở là 99%. Thời gian đẻ từ 5-7 ngày.
    + Trứng: Hình bầu dục dài 0,6mm, rộng 0,4mm, màu trắng xám.
    + Sâu non: Dài từ 6-9mm, trên lưng các đốt ngực và đầu có màu nâu vàng, bụng màu trắng xám. Trên lưng của đốt bụng thứ 8 có 2 chấm nâu và đốt thứ 9 có 4 chấm nâu. Sâu non nằm trong một cái túi màu lá khô. Trên túi có dính các lá khô nhỏ. Sâu non ăn vào sáng sớm hay buổi tối hoặc lúc râm mát, trưa không ăn.
    Sâu non đực lột xác 5 lần, sâu non cái lột xác 6 lần. Mỗi lần lột xác, sâu non lại nhả tơ bịt kín túi lại và chỉ để sợi tơ dính vào cành hoặc lá. Vào mùa đông những ngày ấm áp sâu non vẫn ăn chồi và lá non. Sâu non sống dài từ 38-77 ngày. Khi vào nhộng sâu non nhả một sợi tơ dài 10mm dính vào cành hoặc lá và làm một cái túi treo lủng lẳng. Sau đó sâu non quay đầu xuống rồi hoá nhộng.
    + Nhộng: Nhộng cái dài từ 5-7mm, màu vàng, hình thoi, đoạn đầu và ngực nhỏ uốn cong. Trên lưng từ đốt thứ 3 đến đốt thứ 6 có hàng gai nhỏ màu nâu đen, cuối bụng có 2 gai ngắn. Nhộng đực dài từ 4,5-6mm, màu nâu vàng. Trên lưng của các đốt bụng thứ 4 đến đốt thứ 8 trên dưới có hai hàng gai nhỏ. Cuối bụng cũng có 2 gai nhỏ. Nhộng đực và nhộng cái đều nằm trong túi làm bằng tơ quấn với lá khô nên có màu lá khô, trên có sợi tơ treo vào cành lá. Túi con cái dài từ 12-13mm, túi con đực dài từ 7-10mm.
    - Đặc điểm gây hại: Sâu kèn gây hại làm lá bị những đốm khô và thủng, mất khả năng quang hợp, cây trở nên còi cọc. Sâu non tuổi 1 đến tuổi 3 chỉ ăn lớp biểu bì của lá, các tuổi sau ăn lá thành các lỗ hoặc ăn hết lá chỉ để lại gân lá. Mật độ sâu lên đến hàng vạn con trên cây.
    2. Mối (Isoptera).
    - Đặc điểm: Mối là một trong những côn trùng gây hại nguy hiểm nhất ở rừng, chia làm 2 loại:
    * Loại mối có sinh sản: gồm mối chúa, mối vua và mối giống
    + Mối chúa: Mối chúa có chức năng sinh sản để duy trì nòi giống. Phần đầu và ngực ít bị thay đổi, nhưng phần bụng rất to và cơ thể gấp 250 - 300 lần phần đầu. Thông thường trong 1 tổ mối chỉ có 1 mối chúa.
    + Mối vua: Chức năng của mối vua là thụ tinh cho mối chúa. Mối vua cũng được mối thợ chăm sóc chu đáo, nhưng hình dạng và kích thước vẫn giữ nguyên hình thái mối cánh đực ban đầu. Thông thường trong 1 tổ mối, có một mối vua, nhưng cũng có những loài có 2 - 3 mối vua tương ứng với 2 - 3 mối chúa.
    + Mối giống: Một tổ mối thường có rất nhiều mồi giống có cánh để phân đàn và duy trì nòi giống. Có 2 loại mối giống loại có cánh và loại không cánh. Mối giống có cánh rất đông, với 2 đôi cánh màng bằng nhau, dài hơn thân thể. Khi không bay, cánh xếp dọc trên thân. Lưng của loại mối này có màu nâu đen, bụng màu trắng đục. Mối giống không cánh, có số lượng ít. Loại mối này còn gọi là mối vua, mối chúa bổ sung.
    * Loại mối không sinh sản:
    + Mối lính: Có chức năng bảo vệ tổ chống kẻ thù, đầu mối lính rất to và hướng về phía trước. Hàm trên của mối lính rất phát triển để chống lại kẻ thù.
    + Mối thợ: Mối thợ có chức năng xây tổ, kiếm thức ăn, ấp trứng, điều tiết nhiệt độ trong tổ. Mối thợ cơ quan sinh dục không phát triển. Mối thợ có số lượng đông nhất trong tổ. Về hình thái, mối thợ gần giống mối non, đặc biệt miệng gặm nhai hướng xuống dưới, màu sắc thường sẫm hơn.
    + Trứng: Trứng mối có màu trắng, chiều dài 0,4 - 2mm. Tùy theo loài mối, trứng có những dạng khác nhau.
    + Ấu trùng mối: ấu trùng nở ra được mối thợ nuôi dưỡng và chăm sóc chu đáo. Mối non thường có màu trắng đục. Đầu to hơn ngực. Từ mối non qua nhiều lần lột xác, biến thành mối thợ, mối giống, mỗi lính trưởng thành.
    - Đặc điểm gây hại: Ở rừng cây mới trồng dưới 1 tháng tuổi, mối cắn gốc thân và rễ. Ở rừng cây lớn, mối cắn rễ và vỏ thân tạo những đường hầm xung quanh thân làm cây héo, chết. Mối thường gây hại trên rừng mới trồng thay thế rừng nghèo kiệt. Mối chủ yếu gây hại trên rừng trồng bằng cây con gieo ở vườn ươm. Chúng ít gây hại trên rừng trồng tái sinh hạt. Tỷ lệ gây hại trung bình khoảng 20-30%, có nơi lên đến 70%.
    3. Sâu nâu vạch xám (Speiredonia retorta Linnaeus).

    [​IMG]



    - Trưởng thành: Thân dài từ 20-30mm. Chiều dài cánh trước 34mm. Trên lưng của thân màu nâu xẫm, mặt bụng màu nâu đỏ. Râu đầu hình sợi chỉ dài gần bằng thân. Mắt kép màu xanh xám. Mặt trên hai cánh cơ bản có màu nâu sẫm, mặt dưới có màu nâu đỏ, có 3 đường vân đen chạy ngang. Ở giữa cánh trước có một đường vân màu đen xoắn gần tròn đường kính khoảng 10mm và gần mép ngoài còn có 3 đường vân hình sóng màu đen nằm ngang cánh. Mép ngoài hai cánh có lông hình tua cờ.
    - Trứng: Hình bán cầu đường kính dài từ 0,8-1,02mm, cao từ 0,8-0,9mm. Trên đỉnh trứng có các đường vân tạo thành hình bông hoa xung quanh trứng cũng nổi rõ các đường vân ngang dọc.
    - Sâu non: Thành thục dài từ 60-70mm, màu trắng xám. Hai bên đầu có các vết nâu đen chạy từ đỉnh xuống gốc râu đầu. Toàn thân có nhiều hàng chấm đen chạy dọc nhưng rõ nhất ở hai bên lưng. Đôi chân mỏng khá dài bám chìa ra phía sau.
    - Nhộng: Dài từ 22-26mm, màu nâu đỏ. Mầm cánh dài bằng 1/2 thân. Trên đốt thứ 4 của bụng có 2 vòng tròn nhỏ. Lỗ thở nhìn không rõ. Nhộng cũng có 8 gai hình móc câu màu hơi vàng. Kén thường nằm ngay trên mặt đất dưới các lá khô mục.
    - Sâu nâu vạch xám qua đông ở pha nhộng, nằm trong đất, cuối mùa xuân vũ hoá. Sâu nâu vạch xám ăn hại rừng keo từ 2-8 tuổi nhưng tập trung nhiều ở rừng từ 4¸8 tuổi. Sâu ăn lá làm giảm tăng trưởng của rừng.
    4. Bệnh phấn trắng lá keo (Oidium sp.)
    - Triệu chứng gây hại. Lá non, chồi non và cành non mới đầu có các đốm nhỏ trong suốt, dần dần trên lá có các bột trắng, đó là sợi nấm và bào tử phân sinh. Sợi nấm phát triển ra xung quanh rồi lan rộng cả lá. Bệnh nặng có thể làm cho lá xoăn lại, màu nâu vàng, khô chết, nhưng lá không rụng.
    - Nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát bệnh
    + Bệnh phấn trắng keo do nấm Oidium sp. gây ra. Nấm bệnh mọc trên bề mặt lá để hút dinh dưỡng. Bào tử hình trứng hoặc bầu dục, không màu, cuống bào tử hình ống, có vách ngăn.
    + Nhiệt độ 20-380C, độ ẩm bão hoà, tỷ lệ nảy mầm là 8-17%. Nhưng khi nhiệt độ thích hợp 22-280C độ ẩm 85-100%, bào tử rời khỏi mặt lá 5-7 ngày sẽ mất đi khả năng nảy mầm. Bệnh bắt đầu phát sinh vào tháng 11, nặng nhất là tháng 3-4. Trong điều kiện thích nghi và thời tiết âm u bệnh rất dễ lây lan thành dịch. Sợi nấm có thể qua đông trên đốm vàng của lá già để năm sau xâm nhiễm lá mới.
    5. Bệnh thán thư (đốm than) lá keo (Colletotrichum gloeosporioides)
    - Triệu chứng gây hại
    Bệnh phát sinh gây hại trên lá, chủ yếu ở đầu ngọn lá và mép lá. Lúc đầu lá mất màu rồi lan rộng dần vào phiến lá, vết bệnh có thể làm khô đến nửa lá. Vết bệnh màu nâu xám hoặc nâu đeo, trên bề mặt vết bệnh có các đốm, chấm đen nhỏ, lúc trời ẩm có thể thấy nhiều bộ màu hồng. Trên cành non vết bệnh lừm xuống, chung quanh cú viền đen và giữa vết bệnh có các chấm đen nhỏ. Bệnh gây hại cây keo ở vườn ươm và rừng trồng, làm cây sinh trưởng chậm.
    - Nguyên nhân và điều kiện phát bệnh
    + Bệnh thán thư (đốm than) lá keo do nấmColletotrichum gloeosporioides
    + Sợi nấm qua đông trong lá bệnh, mùa xuân năm sau hình thành bào tử, lây lan nhờ gió, nẩy mầm xâm nhiễm. Bệnh phát triển mạnh vào tháng 3-5, tháng 6 giảm dần.
    6. Bệnh đen thân (Macrophomina phaseolina Tassi)
    - Triệu chứng gây hại: ban đầu gốc biến thành màu nâu, lá mất màu xanh, bệnh phát triển dần lên ngọn làm lá khô héo rũ xuống phần vỏ thân co ngót, tầng trong vỏ thối đen, xốp hoặc dạng bột. Trong đó mọc nhiều hạch nấm màu đen. Nấm bệnh có thể xâm nhiễm vào phần gỗ, phần tủy gỗ biến thành màu nâu đen và lan dần đến phần rễ cây, nhổ cây lên chỉ còn lại phần gỗ.
    - Nguyên nhân gây bệnh, điều kiện phát bệnh:
    + Do nấm bệnh Macrophomina phaseolina Tassi gây nên. Hạch nấm màu đen, dạng bột, bào tử hình bầu dục không màu, đơn bào, nấm này ưa nhiệt độ cao, khoảng 30-400C, yêu cầu độ pH không nghiêm khắc, trong khoảng pH 4-9 chúng có thể sinh trưởng bình thường.
    + Nấm bệnh thường sống hoại sinh trong đất. Khi gặp cây chủ và môi trường thích hợp chúng lập tức xâm nhiễm. Trong mùa nắng nóng, nhiệt độ mặt đất lên cao, phần gốc cây bị tổn thương tạo điều kiện cho bệnh xâm nhập gây hại. Ở những khu vực tích tụ nhiều nước, tỷ lệ cây bệnh càng tăng lên rõ rệt. Sau thời tiết mưa phùn 10-15 ngày bệnh bắt đầu phát sinh. Về sau tăng dần đến tháng 10. Nặng nhất là các tháng 6, 7, 8.
    7. Bệnh bồ hóng (Capnodium mangifera).
    - Triệu chứng gây hại: Đầu tiên hình thành vết bệnh hình tròn màu đen, về sau dần dần lan rộng tòan bộ mặt lá phủ một lớp bồ hóng làm cho lá không quang hợp được.
    - Nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát triển bệnh:
    + Do nấm Meliola, Capnodium.
    + Độ ẩm lớn bệnh phát triển nặng, nhiệt độ cao bệnh ít phát sinh, bệnh thường phát triển mạnh trên những diện tích bị rệp gây hại.


    Nguồn: http://tinhot247.blogspot.com/
     
    Cảm ơn đã xem bài:

    Khám phá các triệu chứng bệnh của gỗ keo

    Đang tải...


Like và Share ủng hộ ITSEOVN