Những bệnh liên quan đến tuyến tiền liệt

Thảo luận trong 'Rao Vặt Miền Bắc' bắt đầu bởi ngocchay1, 12/5/16.

  1. ngocchay1

    ngocchay1 Thành Viên Mới

    Tham gia ngày:
    23/2/16
    Bài viết:
    90
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Giới tính:
    Nam
    Tiền liệt tuyến (TLT) là cơ quan nằm sau xương mu, dưới bàng quang, bao phủ xung quanh niệu đạo tiền liệt và trước trực tràng. Bệnh thường gặp ở đàn ông cao tuổi. Do TLT nằm trước trực tràng nên có thể sờ thấy được khi đưa ngón tay vào bên trong hậu môn (thuật ngữ y khoa còn gọi là “thăm khám trực tràng”).

    TLT có hình nón, đỉnh ở dưới và đáy ở trên, cao 3cm, rộng 4cm, dày 2,5cm, nặng từ khoảng 15 20gram ở người lớn. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng độ tuổi khoảng từ 40 50 trở lên có tỷ lệ phì đại TLT chiếm khoảng 90%.

    Xem thêm các thông tin u xơ tiền liệt tuyến, viêm đường tiết niệu.



    Tiền liệt tuyến có chức năng gì?

    TLT có chức năng chính là tiết ra tinh dịch rồi đổ vào niệu đạo ở vùng xoang tiền liệt. Dịch TLT có màu trắng đục với độ pH khoảng 6 (kiềm hơn dịch âm đạo), nhờ vậy có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn, bảo vệ tinh trùng cho đến khi thụ tinh.

    Lượng dịch do TLT bài tiết chiếm khoảng 35% thể tích dịch phóng ra khi mỗi lần giao hợp. Dịch TLT chứa nhiều ion canxi, acid citric, tiền fibrinolysin, nhiều loại enzym đông đặc, prostaglandin.

    Các enzym đông đặc của TLT sẽ tác dụng vào fibrinogen và làm đông nhẹ tinh dịch ở đường sinh dục nữ, do vậy có thể giúp tinh trùng nằm sát cổ tử cung. Sau khoảng 15 30 phút, tinh dịch sẽ được làm loãng đi và nhờ enzym fibrinolysin có trong dịch TLT và tinh trùng sẽ được hoạt động trở lại.

    Prostaglandin của dịch của túi tinh cũng như dịch TLT sẽ làm co cơ tử cung, tăng nhu động vòi trứng làm cho tinh trùng di chuyển trong đường sinh dục nữ và dịch này sẽ bôi trơn cho hoạt động quan hệ.

    Những bệnh hay gặp của Tiền liệt tuyến.



    Viêm TLT cấp tính: Là tình trạng bị nhiễm khuẩn TLT thường do bởi một số vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bàng quang. Các vi khuẩn đó có tên là E.Coli, Proteus, Klebsiella. Vi khuẩn có thể từ đường máu lan đến cơ quan TLT, hoặc từ các cơ quan kế cận, hoặc do sinh thiết TLT không đảm bảo môi trường vô khuẩn. Bệnh thường hay xảy ra khi ở trong tuần trăng mật giữa tân nương và tân lang do hoạt động tình dục quá nhiều với tần suất liên tục.

    Bệnh khởi phát đột ngột với sốt, đau vùng lưng, ớn lạnh, dưới và vùng tầng sinh môn (vùng nằm giữa hậu môn và bộ phận sinh dục ngoài), tiểu lắt nhắt, kèm theo tiểu khó nhiều lần trong ngày. Thêm vào đó có thể tiểu máu cuối bãi, đầu bãi hoặc toàn bãi.

    Bác sĩ sẽ cho làm xét nghiệm nước tiểu để tìm vi khuẩn, bạch cầu giúp ta chọn lựa kháng sinh phù hợp.



    Viêm TLT mạn tính: Các biểu hiện thường nhẹ hơn so với giai đoạn cấp tính. Bệnh nhân không cảm thấy hiện tượng đau, sốt

    lúc phóng tinh và tinh dịch có vết máu. Tiểu ít, tiểu khó một nhiều lần trong ngày, đôi lúc có chảy ra dịch ở đầu dương vật. Điều trị bằng kháng sinh như nhóm fluoroquinolon (ciprofloxacin, moxifloxacin, levofloxacin) kết hợp với một kháng viêm không steroid như diclofenac.

    Xem thêm các thông tin u xơ tiền liệt tuyến, viêm đường tiết niệu.



    U phì đại lành tính TLT: Ở trẻ em, TLT có kích thước rất nhỏ. Từ tuổi dậy thì trở đi, TLT bắt đầu phát triển đạt tới kích thước tối đa vào khoảng 20 tuổi và giữ nguyên kích thước cho tới khi đạt đến năm 50 tuổi. Kể từ tuổi 50 trở đi, TLT sẽ phát triển lớn ra theo thời gian và gây ra bệnh u phì đại lành tính tuyến tiền liệt.

    Bệnh phát triển đột ngột hay từ từ với những biến chứng như nhiễm khuẩn, suy thận, bí tiểu. U phì đại lành tính TLT không có biểu hiện ung thư hóa nhưng có thể bị ung thư xâm nhiễm với tỷ lệ từ 10 25%. Ở giai đoạn đầu, người bệnh hay tiểu lắt nhắt nhất là từ nửa đêm đến sáng sớm, mỗi lần đi tiểu phải rặn. Sau đó đi tiểu lắt nhắt cả đêm lẫn ngày, mỗi lần đi tiểu xong vẫn còn có cảm giác nước tiểu chưa ra hết mà còn đọng lại trong bàng quang.

    Cuối cùng là tiểu bí tiểu hoặc ri rỉ. Nhiễm khuẩn là biến chứng thường hay gặp. Thăm trực tràng thấy một khối u có kích thước khá to, chắc hoặc hơi mềm, bề mặt nhẵn. Để chẩn đoán chính xác, cần cho người bệnh siêu âm.

    Trong giai đoạn đầu, thầy thuốc thường cho điều trị nội khoa với các thuốc như tadenan, crila, xatral, (chiết xuất từ lá cây trinh nữ hoàng cung). Khi bệnh tiến triển nặng hoặc biến chứng, cần can thiệp phẫu thuật. Hiện nay, phẫu thuật được nhiều thầy thuốc lựa chọn và ưa thích là phẫu thuật nội soi qua đường niệu đạo.



    Ung thư TLT: Khi ung thư TLT đã xảy ra, các tế bào ung thư phát triển rất nhanh dưới tác động kích thích của testosteron (nội tiết tố sinh dục nam). Ngược lại, sự tiến triển của tế bào ung thư sẽ bị ức chế nếu cắt bỏ tinh hoàn.

    Ung thư TLT ít gặp hơn u phì đại lành tính TLT. Biểu hiện bao gồm: đau, tiểu đêm, tiểu khó, rối loạn chức năng cương , tiểu máu... Chỉ 1/3 người bệnh là có biểu hiện lâm sàng.

    Ung thư TLT hay di căn đến xương và hạch limpho. Khi đó, người bệnh thường bị đau xương, hay gặp ở

    xương đốt sống, xương sườn hoặc khung chậu. Ung thư TLT di căn đến đốt sống có thể chèn ép dây sống khiến yếu chân, đại tiện và tiểu tiện không tự chủ.

    Để chẩn đoán ung thư TLT có thể định lượng PSA trong máu. Nếu nồng độ PSA trên 40 nanogam/ml, thì nghi ngờ ung thư TLT. Tuy vậy, nồng độ PSA có thể tăng khi nhiễm khuẩn, khi khối u TLT trên 60g.





    Bởi vậy, để chẩn đoán chắc chắn, cần sinh thiết TLT khi thăm trực tràng thấy một khối u cứng, to, bề mặt lổn nhổn cộng với các biểu hiện lâm sàng. Tùy theo giai đoạn bệnh, di căn mà bác sĩ sẽ cho cắt bỏ khối u, hóa trị, xạ trị.

    Xem thêm các thông tin u xơ tiền liệt tuyến, viêm đường tiết niệu.
     
    Cảm ơn đã xem bài:

    Những bệnh liên quan đến tuyến tiền liệt

    Đang tải...


Like và Share ủng hộ ITSEOVN